🕹️ Thiền Nghệ Thuật Của Nhập Định
Cái cốt lõi của nghệ thuật là tính nhân đạo." (Nguyên Ngọc) 3. "Văn học là nhân học." (M. Gorki) 4. "Nghệ thuật không cần phải là ánh trăng lừa dối, nghệ thuật không nên là ánh trăng lừa dối. Nghệ thuật có thể chỉ là tiếng đau khổ kia, thoát ra từ những kiếp sống
Phân tích kỹ thuật (TA): Khoa học hay nghệ thuật? Nhật kí nhận định thị trường hàng tuần. Tối chủ nhật. Vâng, Mật khẩu của tôi là: Bạn đã quên mật khẩu? Duy trì trạng thái đăng nhập.
Đánh Thiền sang bằng Thiền và Thiền (nghệ thuật) Mưa khóc tháng năm về sự phối hợp tất nhiên giữa ngoại tại và nội tâm để tạo nên một thể thời gian qui định của đời, cái đó thuộc thời gian của con người và thời gian xã hội, hai sứ mạng nầy liên kết với
Nếu bạn hay thiền và đang tìm kiếm dòng tinh dầu có thể hỗ trợ bạn khi thiền hãy tìm đến sản phẩm Tinh Dầu Thiền Định Meditation từ Tinh Dầu Thiên Nhiên Với sự kết hợp độc đáo giữa tinh dầu gỗ đàn hương quý hiếm cùng những nguyên liệu thiên nhiên khác sản phẩm
Tâm, ý và thức, ba tên gọi cùng chỉ một nội hàm. Nghĩa tuy khác nhau nhưng thể là một ". Trong đó, về tầng đáy, Thượng tọa bộ Nam phương gọi là thức Hữu phần hay Hữu chi (bhavaṅga); các nhà Du già hành hay Duy thức luận, gọi nó là thức A lại da (ālaya) hay thức thứ tám.
Nghệ thuật pha trà trong một trà lễ Nhật đã đi tới chỗ rất tinh vi, nhưng tiếc thay, kỹ thuật pha trà thì còn mà nội dung thiền trà đã mất. Người pha trà không còn theo dõi hơi thở và tập ý thức về mỗi cử chỉ của mình theo phương pháp quán niệm xưa.
Nghệ thuật làm vườn Nhật đã phát triển từ lâu với nhiều phong cách thiết kế: sân vườn Karesansui, sân vườn Tsukiyama và sân vườn Chaniwa. Mẫu sân vườn Karesansui là loại sân vườn đá, hay sân vườn khô, hay còn gọi là sân vườn thiền định (Zen garden).
Nghệ thuật cắm hoa (Ikebana) ở Nhật Bản trở thành "đạo" gọi là hoa đạo - một trong những biểu tượng của mỹ học Thiền. Nghệ thuật Ikebana đòi hỏi sự khéo léo, tỉ mỉ nhằm tạo ra sự "hài hòa của các đường nét, nhịp điệu và màu sắc" [61; 60].
Quyết định 2521/QĐ-UBND năm 2021 phê duyệt hệ số điều chỉnh giá đất để tính bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và mức hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề nghiệp, tìm kiếm việc làm của Dự án Xây dựng Cầu Vàm Sát 2, xã Lý Nhơn, huyện Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh.
OYGa. Thông tin tác giả - Tên thật là Chandra Mohan Jain, sinh ngày 11/12/1931, tại bang Madhya Pradesh, Ấn Độ- 1951 Học Đại học Hatkirini và sau đó là Đại học Jain tại Jabalpur- 21-13-1953 Chứng ngộ- 1955 Tốt nghiệp khoa Triết, Đại học Jain và lấy bằng Triết tại Đại học Sagar năm 1957- 1958 Giảng ... Vào trang riêng của tác giả Xem tất cả các sách của tác giả “Thiền có nghĩa là nhận biết. Bất kỳ điều gì bạn làm với nhận biết thì đó là thiền. Không phải là hành động mà phẩm chất của bạn mang vào hành động đó mới là vấn đề. Đi bộ có thể là thiền nếu bạn bước một cách nhận biết. Ngồi có thể là thiền nếu bạn ngồi với nhận biết. Nghe chim hót có thể là thiền nếu bạn nghe với nhận biết. Nghe tiếng ồn bên trong tâm trí bạn có thể là thiền nếu bạn giữ nguyên nhận biết và tỉnh táo. Toàn bộ vấn đề là ở chỗ con người không nên hướng vào mơ ngủ. Thế thì bất kỳ điều gì bạn làm cũng là thiền. Lời thầy hàm chứa cái yên lặng quanh đó, lời thầy không phải là tiếng động. Lời thầy có giai điệu, có nhịp điệu, có âm nhạc và cốt lõi chính của lời thầy là sự yên lặng hoàn toàn. Nếu bạn có thể hiểu thấu lời thầy thì bạn sẽ đi xuyên vào cái yên lặng vô hạn này. Nhưng để thấy hiểu lời của Phật thì cách thức không phải là phân tích, cách thức không phải là biện luận, cách thức không phải là tranh luận. Cách thức là chìm vào quan hệ với thầy, trở thành hòa hợp với thầy, đồng bộ với thầy. Trong sự hòa hợp đó, trong sự chuộc lỗi đó, người ta đi vào trong chính cốt lõi lời thầy. Và ở đó bạn sẽ không tìm thấy bất kì âm thanh nào. Và việc nếm trải nó là việc hiểu thầy. “ OSHO “Những người chứng ngộ như Osho là những người vượt lên thời đại của mình. Bây giờ rất nhiều người trẻ tuổi đang đọc những tác phẩm này của ông, đây là điều rất đáng mừng. Cựu tổng thống Ấn Độ Mời bạn đón đọc.
Rất nhiều nghiên cứu khoa học cho thấy thiền giúp chúng ta phát triển rất đáng kể các phẩm chất như sự tập trung, giữ thăng bằng trong tình cảm, nghĩ tới những người khác và có một nội tâm bình yên. Các nghiên cứu khoa học cũng đã cho thấy những lợi lạc có được sau 20 phút thiền định hàng ngày, liên tục trong 6-8 tuần giảm lo âu và khả năng bị tổn thương khi bất hạnh, bớt xu hướng trầm cảm và tức giận, củng cố năng lực tập trung, tăng cường hệ thống miễn dịch và trạng thái an lạc nói chung. Bất cứ ta xem xét thiền dưới góc độ nào – thiền để chuyển hóa bản thân, để phát triển tình yêu thương đồng loại, hoặc vì sức khỏe thể chất – thiền đều tỏ ra là yếu tố cơ bản mang lại một cuộc sống cân bằng và giàu ý nghĩa. Thiền chính là kiểm soát được tâm thức của mình, là làm quen với cách tiếp cận mới về thế giới và xây dựng một lối sống vượt lên trên những ràng buộc của nếp tư duy cũ. Thiền thường khởi đầu bằng sự phân tích, kế tiếp là suy ngẫm và chuyển hóa nội tâm. Tự do có nghĩa là làm chủ được chính mình. Điều đó không phải là làm tất cả những gì ta hứng lên muốn làm, mà là thoát được ra khỏi sự trói buộc của những điều bực bội choán hết tâm trí và làm cho tâm trí tối tăm đi. Tự do là nắm cuộc đời mình trong tay, thay vì bỏ mặc nó cho những thói quen cố hữu và cho sự lẫn lộn của tâm cách hành thiền như thế nào để có được kết quả tốt nhất? Trong cuốn sách Nghệ thuật thiền định, tác giả Matthiew Ricard sẽ giúp bạn tìm hiểu những vấn đề cơ bản trong cách hành thiền giúp bạn đạt được kết quả tốt nhất trong quá trình thực tậpMatthieu Ricard là nhà sinh học, nghiên cứu về tế bào di truyền nhiều năm tại Institut Pasteur, học trò của Francois Jacob. Matthieu Ricard đã đi theo đạo Phật và trở thành một trong những nhà sư rất được kính trọng. Ông là phiên dịch viên tiếng Pháp của Đức Dalai Lama, nhà nhiếp ảnh, dịch giả và tác giả của nhiều cuốn sách nổi tiếng như Nhà sư và triết gia Cùng với Jean-Francois Revel, Nil, 1997; Những nhà sư vũ công của Tây Tạng Albin Michel, 1999; Himalaya Phật giáo La Martinière, 2002; Tư tưởng Tây Tạng Le Seuil, 1996; Cái vô hạn trong lòng bàn tay Cùng với Trịnh Xuân Thuận, Nil, 2000 và gần đây nhất là cuốn sách Bàn về hạnh phúc Thaihabooks & NXB Lao động XH, 2009Tác phẩm Cái vô hạn trong lòng bàn tay là cuộc đối thoại giữa Matthieu Ricard với giáo sư Trịnh Xuân Thuận, người Việt Nam đầu tiên được trao giải thưởng cao quý Kalinga của UNESCO về Phổ biến khoa học năm 2009, đó là “cuộc đối thoại” giữa Phật giáo và khoa học. úng như điều Einstein cảm nhận, Phật giáo là một tôn giáo có thể đối thoại với khoa học, cả hai không những không đối kháng mà còn bổ khuyết cho nhau trong việc tìm hiểu khoa học hiện đại và đời sống tinh thần của từng cá nhân cũng như trong nỗ lực chế ngự thiên nhiên và kềm chế bản ngã để tìm đường thoát khổ. Hiện Mathieu Ricard đang ở tại tu viện Shéchèn Nê-pan, cống hiến cuộc đời cho việc bảo tồn nền văn hóa Tây Tạng và cho những dự án nhân đạo ở Tây Tạng. Động cơ Cũng như bất kỳ một hoạt động nào khác, khi bắt đầu tập thiền, điều cơ bản là xem xét kỹ lưỡng bản chất động cơ của chúng ta. Thật vậy, chính động cơ đó vì người khác hay vì mình, cao thượng hay hẹp hòi sẽ dẫn đến việc các hành động của chúng ta đi theo hướng tích cực hay tiêu cực và vì vậy, sẽ quyết định kết quả của các hành động đó. Tất cả chúng ta đều muốn được hạnh phúc, tránh khổ đau và chúng ta đều có quyền cơ bản để thực hiện khát vọng ấy. Tuy nhiên, những hành động của chúng ta thường hay mâu thuẫn với ý muốn của mình. Chúng ta đi tìm hạnh phúc ở nơi nó không tồn tại, và lao tới những thứ sẽ làm cho mình đau khổ. Thực hành Phật pháp không đòi hỏi phải chối bỏ mọi thứ thực sự có ích lợi trong cuộc sống, mà là biết từ bỏ những nguyên nhân gây ra khổ đau mà chúng ta cứ bám vào như nghiện ma túy vậy. Vì nỗi đau khổ đó sinh ra từ tâm trí mê muội, mất tỉnh táo của chúng ta, từ cách nhìn nhận, đánh giá của chúng ta, cho nên cách duy nhất để cải thiện tình trạng này là có được một cách nhìn đúng đắn chánh kiến về thực tại và chuyển hóa tâm thức của mình. Làm như thế, chúng ta sẽ loại trừ được những nguyên nhân đầu tiên những độc tố của tâm thức là thiếu hiểu biết, độc ác, tham lam, kiêu ngạo và đố kỵ. Chính thái độ bám chấp ích kỷ và xảo trá của “cái tôi” đã sinh ra những độc tố đó. Tuy vậy, thoát khỏi những đau khổ của bản thân mình chưa đủ. Mỗi chúng ta chỉ là một chúng sinh mà thôi, trong khi những người khác thì có tới vô lượng và đều mong muốn không phải chịu khổ đau như chúng ta. Hơn nữa, mọi chúng sinh đều phụ thuộc lẫn nhau, và vì thế, gắn bó với nhau rất mật thiết. Do vậy, mục đích rốt ráo của quá trình chuyển hóa mà chúng ta sắp dấn thân vào qua con đường thiền định cũng nhằm giải phóng mọi chúng sinh khỏi khổ đau và góp phần làm lợi lạc cho tất cả mọi người. Thiền Hãy suy nghĩ về hoàn cảnh của chúng ta hiện nay. Chẳng lẽ những cách ứng xử hay phản ứng theo thói quen của chúng ta không đáng phải sửa đổi cho tốt hơn hay sao? Hãy nhìn thật sâu vào chính bản thân mình! Chẳng lẽ, chúng ta không thấy mình có tiềm năng để thay đổi ư? Chúng ta hãy tin rằng mình có thể thay đổi, chỉ cần có quyết tâm và trí tuệ mà thôi. Hãy nguyện chuyển hóa bản thân không chỉ vì lợi ích của riêng mình, mà còn để một ngày nào đó, chúng ta có khả năng giải thoát mọi người khỏi khổ đau và giúp họ tìm thấy hạnh phúc lâu dài. Hãy để cho quyết tâm này lớn dần và bám rễ thật sâu và chắc trong tâm trí chúng ta. Nguồn cảm hứng “Chúng ta thường tỏ ra có đầu óc hẹp hòi hay cởi mở? Thông thường, chúng ta xem xét tổng thể sự việc hay chỉ nhìn vào chi tiết? Chúng ta nhìn nhận sự việc cho trước mắt hay cho lâu dài? Động cơ của chúng ta có thực sự là tình thương yêu hay không? Phải chăng tình thương yêu ấy chỉ giới hạn trong gia đình, trong bạn bè và tất cả những ai giống chúng ta? Cần phải không ngừng tự hỏi mình những câu như vậy.” Đức Dalai Lama thứ XIV Những điều kiện thuận lợi để hành thiền Theo chỉ dẫn của người có năng lực Để có thể thiền, đầu tiên phải biết cách tập. Vì thế, người thầy đóng một vai trò cơ bản. Trường hợp may mắn nhất là gặp được một vị thầy tâm linh chân chính, có khả năng hiến tặng nguồn cảm hứng, kiến thức hiểu biết sâu rộng và những kinh nghiệm dầy dạn của bản thân vị đó. Thật vậy, không gì có thể thay thế được sức mạnh của một tấm gương và sự sâu sắc của lối trao truyền trực tiếp, sống động. Ngoài sự có mặt đầy cảm hứng và bài học thầm lặng truyền cho trò thông qua cách sống của mình, vị thầy luôn luôn để ý sao cho đệ tử không đi lạc vào những con đường sai trái. Nếu không có cơ hội gặp được một vị thầy như thế, chúng ta cũng có thể tiếp nhận những lời chỉ giáo của một thiện tri thức, hiểu biết hơn và có kinh nghiệm hơn chúng ta, với điều kiện là những lời chỉ bảo đó phải dựa trên một truyền thống chân thực và được thực chứng rất nhiều lần. Nếu không, tốt hơn cả là tìm sự trợ giúp từ những kinh sách, kể cả những sách lược giản như cuốn sách này, miễn là nó dựa trên những nguồn đáng tin cậy, còn hơn là trao gửi mình cho một người chỉ biết hướng dẫn theo những ngẫu hứng của chính anh ta. Một nơi thích hợp cho việc hành thiền Hoàn cảnh cuộc sống thường nhật của chúng ta không phải lúc nào cũng thuận lợi cho việc hành thiền. Thời gian và tâm trí chúng ta liên tục bị những hoạt động và lo toan choán chỗ. Chính vì thế mà ban đầu, cần phải tự tạo cho mình một số điều kiện thuận lợi. Khi bị cuốn theo cuộc sống hối hả hàng ngày, chúng ta hoàn toàn có thể và cần duy trì lợi ích của thiền, đặc biệt là thực hành “tỉnh thức”. Song lúc đầu, cần phải đặt tâm trong một môi trường thích hợp. Người ta không thể học những kiến thức sơ đẳng về lái tàu trong một cơn giông bão mà phải vào lúc trời yên biển lặng. Cũng như vậy, lúc đầu nên tập thiền ở một nơi yên tĩnh để tâm có cơ hội trở nên sáng sủa và ổn định. Kinh sách của đạo Phật thường hay dẫn chứng hình ảnh ngọn đèn dầu. Nếu cứ liên tục để đèn ra trước gió thì ánh lửa sẽ yếu và có nguy cơ bị tắt bất cứ lúc nào. Ngược lại, nếu ta biết chắn gió cho đèn thì ngọn lửa sẽ được giữ yên và rực sáng. Đối với tâm thức của ta cũng vậy. Một tư thế ngồi phù hợp Tư thế ảnh hưởng tới tâm trạng. Nếu ngồi uể oải thì dễ bị hôn trầm và buồn ngủ khi thiền. Ngược lại, nếu ngồi quá cứng nhắc và căng thẳng thì tâm trí lại dễ bị loạn động. Vì thế, cần phải chọn một tư thế cân bằng, không quá căng thẳng, cũng không quá trễ nải. Trong kinh sách có mô tả tư thế ngồi bảy điểm, được gọi là thế Kim cương. 1. Hai chân bắt chéo trong tư thế Kim cương vajra, thường được gọi là “thế hoa sen” hay “kiết già” đầu tiên gập chân phải lên đùi chân trái, sau đó gập chân trái lên đùi chân phải. Nếu cách ngồi này quá khó, ta có thể ngồi theo “thế nửa hoa sen” hay “bán già” để chân phải dưới đùi trái và chân trái dưới đùi phải sukhasana. 2. Hai bàn tay đặt vào lòng, trong tư thế buông xả, bàn tay phải đặt trên bàn tay trái sao cho đầu hai ngón cái chạm vào nhau. Một cách khác là để úp hai bàn tay lên đầu gối. 3. Hai vai hơi nhô lên và đầu cúi về phía trước. 4. Cột sống thật thẳng, “giống như một chồng tiền xu bằng vàng”. 5. Cằm hơi gập xuống cổ. 6. Đầu lưỡi chạm nhẹ vào hàm trên. 7. Mắt nhìn thẳng hoặc nhìn xuôi theo sống mũi, mở to hoặc khép hờ. Nếu ngồi bắt chéo hai chân mà khó thì đương nhiên chúng ta có thể ngồi thiền trên một chiếc ghế, hoặc trên một chiếc gối cao. Điều cốt yếu là duy trì một tư thế cân bằng, lưng thẳng và tuân thủ những điểm đã được mô tả ở trên. Kinh sách nói rằng nếu thân được giữ thẳng, các đường kinh dẫn năng lượng vi tế cũng sẽ thẳng, và nhờ thế, tâm trí sẽ minh mẫn. Tuy nhiên, chúng ta cũng có thể thay đổi một chút tư thế ngồi tùy theo diễn biến trong quá trình thiền. Nếu ta có xu hướng hôn trầm, thậm chí buồn ngủ thì hãy dựng thẳng lưng lên cho khỏe khoắn và mắt nhìn lên cao. Ngược lại, khi tâm trí quá loạn động thì chúng ta ngồi thoải mái hơn một chút và đưa mắt nhìn xuống. Cách ngồi thích hợp phải được duy trì lâu nhất có thể, song nếu nó trở nên khó chịu thì tốt hơn cả là thư giãn một lúc còn hơn là liên tục bị mất tập trung vì đau đớn. Người ta cũng có thể trải nghiệm đau đớn theo khả năng chịu đựng của mình, không chối bỏ nó mà cũng không cường điệu nó, đón nhận nó như bất kỳ một cảm giác thích thú hoặc chán ghét nào khác, trong trạng thái tâm tỉnh thức ở hiện tại. Cuối cùng, ta cũng có thể xen kẽ thiền tọa ngồi với thiền hành đi. Đây là phương pháp mà chúng tôi sẽ nói tới ở phần sau. Nhiệt tâm là động cơ để duy trì thiền Để quan tâm tới điều gì và dành thời gian cho nó, trước hết cần thấy rõ lợi ích mà điều ấy mang lại. Việc suy nghĩ tới những lợi lạc của thiền, sau đó tự mình nếm thử chút xíu hương vị của nó sẽ nuôi dưỡng tính bền bỉ của chúng ta. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa rằng thiền là một loại thực hành lúc nào cũng dễ chịu. Người ta có thể ví nó như một buổi leo núi, không phải lúc nào cũng thích thú. Điều cơ bản là cảm nhận được lợi ích sâu sắc của thiền để duy trì nỗ lực, bất chấp những lúc lên xuống trong quá trình thực hành tâm linh. Khi đó, sự mãn nguyện do tiến dần tới đích mà mình đặt ra cũng đủ để duy trì quyết tâm và niềm tin rằng nỗ lực bỏ ra là xứng đáng.
Giới thiệu sách Thiền Nghệ Thuật Nhập ĐịnhKhông-làm là Thiền, nhưng khi tôi nói không-làm là Thiền, tôi không có ý nói rằng bạn không cần phải làm bất cứ điều gì. Thậm chí để đạt được sự không-làm này, bạn phải làm rất nhiều. Nhưng sự “làm” này không phải là Thiền. Nó chỉ là một bước đệm, chỉ là một bục nhảy. Tất cả những cái “làm” chỉ là một bục nhảy, không phải là Thiền. - Chứng ngộ không có những cấp độ. Một khi nó xuất hiện thì nó có đó. Nó giống như cú nhảy vào đại dương cảm xúc. Bạn nhảy, bạn trở thành một với nó, giống như giọt nước rơi vào đại dương và trở thành một với đại dương. Nhưng điều đó không có nghĩa là bạn đã biết toàn bộ đại dương. - Khi lần đầu tiên Maulingaputta đến với Đức Phật, ông ấy đã hỏi nhiều câu hỏi. Đức Phật nói “Ông đang hỏi để làm sáng tỏ các câu hỏi, hay ông đang hỏi chỉ để tìm những câu trả lời?”. Maulingaputta nói “Tôi đến để hỏi Thầy, và Thầy lại bắt đầu hỏi tôi! Hãy để tôi cân nhắc về chuyện đó, tôi phải suy nghĩ về nó”. Ông ấy đã nghĩ về chuyện đó và ngày thứ hai ông nói “Thực ra tôi đến là để làm sáng tỏ chúng”. Đức Phật nói với ông ấy “Ông cũng đã hỏi người khác những câu hỏi này?”. Mailingaputta nói “Tôi đã liên tục hỏi mọi người suốt 30 năm”. Đức Phật nói “Với việc hỏi trong 30 năm, chắc ông phải có nhiều câu trả lời - rất nhiều. Nhưng đã có câu trả lời nào chứng tỏ là câu trả lời chưa?”. Maulingaputta nói “Chưa!”. Thấy thế Đức Phật nói “Tôi sẽ không đưa ra cho ông câu trả lời nào. Trong 30 năm liên tục hỏi, nhiều câu trả lời đã được đưa ra; tôi có thể thêm một vài câu trả lời nhưng điều đó sẽ không ích gì. Cho nên tôi sẽ trao cho ông giải pháp chứ không phải là câu trả lời”. Maulingaputta nói “Tốt thôi, hãy trao nó cho tôi”. Nhưng Đức Phật nói “Tôi không thể trao nó; nó phải phát triển trong ông. Cho nên hãy giữ im lặng với tôi trong vòng một năm. Không được phép hỏi một câu hỏi nào. Hãy tuyệt đối im lặng, hãy cùng ở với tôi, và sau một năm ông có thể hỏi. Khi đó tôi sẽ trao cho ông câu trả lời”. Mục lục Chương 1 Thiền Nghệ thuật của Lễ hội Chương 2 Yoga Sự phát triển của tâm thức Chương 3 Không-làm thông qua làm Chương 4 Thiền “Hỗn loạn” Chương 5 Thiền Động hay Thiền Tĩnh Chương 6 Đi sâu vào cái đã biết Chương 7 Kundalini Sự trỗi dậy của sinh lực Chương 8 Chứng ngộ Một sự khởi đầu vĩnh viễn Chương 9 Sự khai tâm đối với bậc thầy Kỹ thuật tối thượng Chương 10 Sannyas Sự đoạn tuyệt với quá khứ Chương 11 Ham muốn tột cùng Con đường đến phi ham muốn Chương 12 Linh hồn là gì? Chương 13 LSD và Thiền Chương 14 Khả năng trực giác Điều không thể giải thích Chương 15 Tâm thức, Chứng kiến, Nhận biết Chương 16 Sự khác nhau giữa Satori và Samadhi Chương 17 Năng lượng dục Sự thức tỉnh của Kundalini Chương 18 Sự biểu lộ của Prana ở 7 thể Chương 19 Các kỹ thuật truyền thống • 21 ngày thử nghiệm trong im lặng và ẩn dật • Nhìn gương • Lặp lại câu mật chú • Một kỹ thuật về sự tưởng tượng • Chết một cách có ý thức • Đi vào giấc ngủ một cách có ý thức • Giao tiếp với tồn tại trong im lặngThông tin tác giả OshoOshoLà một nhân vật “ngoại hạng”, bởi vì ông không thể được xếp vào một trường phải cụ thể nào. Hàng ngàn bài giảng ông chia sẻ bao trùm mọi chủ đề - từ việc khám phá ý nghĩa tồn tại của bản thân cho đến những vấn đề khẩn thiết nhất của xã hội đương thời hay vấn đề liên quan đến chính trị. Osho nói “Hãy nhở, bất cứ điều gì tôi đang chia sẻ không chỉ dành cho bạn... mà tôi cũng đang trò chuyện với cả những thế hệ tương lai nữa”. Tờ Sunday Times của London mô tả Osho là một trong " Người kiến tạo của thế kỷ 20”. Còn tờ Sunday Mid-Day của Ấn Độ bình chọn Osho là một trong mười người – cùng với Gandhi, Nehru và Đức Phật – thay đổi vận mệnh của Ấn Độ. Osho xác nhận rằng ông đang tạo điều kiện cho sự ra đời của một chủng loại người mới. Ông thường gọi “loài người mới” này là “Zorba Phật” – hình tượng kết hợp giữa Zorba “tay chơi Hy Lạp", đại diện cho chủ nghĩa khoái lạc và sự an nhiên tự tại của Đức Phật Cô Đàm. Osho còn được biết đến với những đóng góp mang tính cách mạng trong lĩnh vực chuyển hóa nội tâm thông qua thiền định. Phương pháp thiền của Osho Active Meditation giúp giải tỏa căng thẳng cho cả thân và tâm, từ đó mọi người dễ dàng trải nghiệm sự an nhiên, tính tại trong cuộc sống thường Thiền Nghệ Thuật Nhập Định của tác giả Osho, có bán tại Nhà sách online NetaBooks với ưu đãi Bao sách miễn phí và Gian hàng NetaBooks tại Tiki với ưu đãi Bao sách miễn phí và tặng Bookmark Xem thêm ĐÁNH GIÁ CỦA ĐỘC GIẢ Hãy đánh giá Thiền Nghệ Thuật Nhập Định để giúp những độc giả khác lựa chọn được cuốn sách phù hợp nhất! Thiền Nghệ Thuật Nhập Định Giá bán tại NetaBooks ₫ ₫ Tiết kiệm ₫-20%
thiền nghệ thuật của nhập định